Friday, March 5, 2010

Từ Đâu có Tiêu Chuẩn Đạo Đức?

***
Nhiều người Thiên Chúa Giáo cho rằng đạo đức của con người được tạo dựng bởi Thiên Chúa. Tôi nghĩ khác.

Tôi nghĩ có những giá trị chung mà bất cứ một người “tử tế” nào cũng đều có thể thấy biết và cảm nhận được (mặc dù chính họ có thực hành những điều nầy hay không). Những giá trị nầy thí dụ như lòng từ bi, sự chân thật, sự công bằng, tình thương, hòa bình, tự do, v.v. Con người chúng ta từ đó xây dựng thêm chung quanh những giá trị cơ bản trên nhiều giá trị phụ khác, cũng như những quy củ và luật lệ để phổ biến và bảo đảm các giá trị nầy được áp dụng càng nhiều càng tốt lên chính chúng ta. Nhiều quy củ và luật lệ trên trở thành những tiêu chuẩn mà chúng ta gọi là “sự đạo đức”. Đây chỉ là một cách thể hiện của phản xạ tự nhiên trong con người để bảo đảm nòi giống họ có cơ hội được trường tồn bền vững.

Nói cách khác, tôi tin rằng những giá trị chung như là lòng từ bi, tính chân thật, sự công bằng, tình thương, hòa bình, tự do, v.v. đã được tạo dựng bởi chính con người chúng ta từ một nhu cầu chung: nhu cầu sống còn.

Hàng triệu năm về trước, người tiền sử sống chung với nhau trong từng nhóm nhỏ. Con người thời ấy từ từ thấy rõ ràng rằng có những hành vi có lợi cho sự sống còn cho từng cá nhân cũng như cho toàn cả nhóm. Các nhóm người mà thành viên thực hành và phổ biến rộng rãi các hành vi như giúp đỡ, bảo bọc, săn sóc, chia sẻ lẫn nhau thường có cơ hội chống đỡ được các thiên tai, thú dữ, tai nạn, kẻ thù, v.v. hơn các nhóm không có các hành vi nầy. Khi các nhóm nhỏ phát triển lên thành bộ lạc, làng xóm, thành phố, v.v. các hành vi nầy càng được công nhận và yêu chuộng hơn. Chúng được hệ thống hóa và phổ biến trong xã hội như những “tiêu chuẩn xã hội tốt”, và từ đó trở thành các “tiêu chuẩn đạo đức”.

Vì những giá trị nầy được tạo dựng bởi sự thỏa thuận chung của xã hội, các xã hội hay nền văn hóa khác nhau có thể có các giá trị khác nhau. Và khi sự thỏa thuận chung của một nền văn hóa thay đổi, những giá trị của nền văn hóa nầy cũng bị ảnh hưởng theo.

Tuy nhiên, những giá trị “nồng cốt” như lòng từ bi, sự chân thật, sự công bằng, tình thương, hòa bình, tự do, v.v. kể trên không thay đổi lắm. Chúng ta có thể nói rằng những giá trị nầy vượt qua được thử thách của thời gian. Đó là tại vì chúng luôn luôn cần thiết và có giá trị (nghĩa là luôn luôn hữu ích) trong mọi xã hội dù là sơ khai hay phát triển, dù trong thời tiền sử hay hiện tại. Đó là tại sao các giá trị nầy được xem là “chung”.

Chúng ta cũng có thể thấy nhiều dạng và mức độ của các giá trị chung nầy ở các động vật có đời sống xã hội, nhất là các loại “tiến hóa cao”, như loài vượn khỉ, chó hoang, voi, cá heo, v.v.

Chúng ta cần nhớ rằng những tiêu chuẩn đạo đức của chúng ta có thể chỉ có giá trị trong phạm trù của chúng ta mà thôi. Những nền văn hóa khác, kể cả của chúng ta, trong những thời điểm hay hoàn cảnh khác có thể có những cái nhìn khác về các tiêu chuẩn nầy.

Có vô số các giá trị “đạo đức” đã đến và đã ra đi. Thí dụ cách đây không lâu, dùng vũ lực quân sự để bắt buộc dân tộc khác phải theo đạo của mình là một điều được chấp nhận và đạo đức (và những ai không chịu theo đạo sẽ được coi là không đáng sống). May mắn thay, ngày nay cách truyền đạo nầy đã được biến đổi thành những phương cách nhẹ nhàng hơn nhiều chỉ vì tư tưởng chung của quần chúng không còn chấp nhận những đường lối đẫm máu nầy trong quá khứ. Thí dụ cách đây không lâu, đàn bà được xem là có đạo đức phải ở nhà sinh con và lo việc gia đình chớ không đi ra ngoài xã hội để sinh hoạt và làm việc chung đụng với đàn ông. Ngay cả ở Anh Quốc trong khoảng 60 năm về trước, một người đàn bà ngồi uống một mình ở các tiệm rượu công cộng vẫn bị coi rằng thiếu đạo đức. Ngày nay những cách nhìn nầy đã hoàn toàn khác đi vì có những sự thay đổi lớn trong lối sống nói chung, trong sự phát triển giáo dục, kinh tế, chính trị, quan điểm đạo đức, v.v.

Ngay cả các giá trị “chung” kể trên cũng không thể áp dụng tuyệt đối trong mọi hoàn cảnh. Thí dụ trong thời Đức Quốc Xã chiếm đóng Âu Châu, nhiều người đã phải nói dối với cảnh sát đặc vụ của Hitler để cứu mạng những người Do Thái đang trốn trong nhà họ. Trong những trường hợp nầy không thể áp dụng tiêu chuẩn đạo đức “phải thành thật” được. Thí dụ một kẻ sát nhân tái phạm nhiều lần cần phải bị giam cầm suốt đời vì sự tự do của họ không thể nào bằng sự an toàn của mọi người khác.

Có thể là khi nói đến vấn đề đạo đức thì có lẽ là không có gì hoàn toàn tuyệt đối. (Dĩ nhiên điều đó cũng áp dụng luôn cho câu nói vừa rồi).
***

Thursday, March 4, 2010

Thuốc Lá

***
Tôi có thể so sánh một số tôn giáo ngày nay cũng giống như vấn đề hút thuốc lá (tôi tránh dùng thuốc phiện để làm thí dụ vì không muốn có người đùng đùng lôi ông Karl Marx thức dậy!).

Chỉ cần trí suy luận bình thường của một người bình thường, ai cũng có thể biết rằng thuốc lá có hại cho cơ thể. Chỉ cần nhìn vào số lượng nhựa bám vàng trên các ngón tay sau vài điếu thuốc là ai cũng có thể tưởng tượng được chuyện gì xảy ra trong hai lá phổi của những người hút lâu năm. Thế nhưng khi nói chuyện với một người nghiện thuốc lá thì chúng ta có thể thấy cái tri thức của con người làm việc một cách khôn khéo lạ lùng. Khi nó có một mục đích cần đạt đến thì nó có thể tự lèo lái, xoay trở rồi đưa ra những lý luận tinh xảo để lấy những dữ kiện tốt lành che đậy những thực chất tai hại. 

Khi “cần hút thuốc” (vì nghiện hóa chất, vì ý chí yếu đuối, v.v.) một người có thể tự thuyết phục và trấn an mình bằng dữ kiện tốt lành (“khoa học chưa thật sự chứng minh được thuốc lá có hại”, “nếu hút thuốc thật sự có hại thì chính phủ đã cấm triệt giống như cấm bạch phiến rồi”, “bao nhiêu trăm triệu người khác cũng hút cũng đâu có sao”, “hút thuốc giúp tinh thần thư thản”, “hút thuốc tỏ ra là một người sành sỏi điệu nghệ”, v.v.) mà gạt bỏ qua những thực tế tai hại của việc hút thuốc (tỉ lệ ung thư phổi, tai, mũi, họng và tuổi thọ ngắn của người hút thuốc cao hơn nhiều lần so với người không hút thuốc, v.v.)

Kỹ nghệ sản xuất thuốc lá đương nhiên vì lợi nhuận đã luôn luôn giấu nhẹm sự thật về thuốc lá. Họ khảo cứu về tác động của thuốc lá trên cơ thể con người, nhưng thay vì phổ biến sự độc hại của nó thì họ dùng kiến thức nầy để cố chế tạo ra những sản phẩm thu hút người mua hơn. Nhà cầm quyền cũng vì lợi tức thuế má từ công nghệ sản xuất và phân phối thuốc lá đã làm ngơ về vấn đề nầy cho đến những năm gần đây.
Khoa học ngày nay đã chứng minh rõ ràng là hít ngữi khói thuốc của người khác đang hút (gọi là “hút thuốc thụ động”) cũng độc hại không kém tự mình hút. Tuy vậy khi có luật cấm hút thuốc ở một số nơi công cộng, nhiều người hút thuốc lá rất phẫn nộ. Họ cho rằng quyền tự do của họ đã bị xúc phạm. Họ cho rằng nhu cầu và lối sống nầy của họ cần phải được mọi người tôn trọng.

Chúng ta vẫn thường thấy những người hút thuốc ở chỗ đông người hay những bà mẹ điềm nhiên hút thuốc kế bên các đứa con nhỏ của họ. Vì không muốn phiền phức, hơn là vì lý do lịch sự, chúng ta bỏ đi chỗ khác thay vì phản đối việc làm của họ.

Đến lúc nào, hay ở trường hợp nào, chúng ta mới không còn lo ngại phiền phức để trình bày với những người nầy về nhận xét và ý nghĩ của mình?

Nếu ai cũng nghĩ người khác sẽ làm việc nầy thì rốt cùng rồi người đó sẽ là ai?
***

Wednesday, March 3, 2010

Quyền Lên Tiếng

***
Thật ra là tôi không muốn can dự gì đến việc ai muốn tin những chuyện nữ đồng trinh sinh con, đi trên mặt nước, chữa người mù sáng mắt, sống dậy sau khi đã chết, v.v. và từ đó giàn dựng cuộc đời của họ dựa trên niềm tin trên.

Tuy nhiên, nếu những người nầy nắm chính quyền và dựa trên niềm tin trên mà đưa ra những chính sách có ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của tôi thì tôi tin rằng tôi có quyền lên tiếng.

Nếu có những người dựa lên niềm tin của họ mà hoặc công khai hoặc ngầm cho tôi là “kém đạo đức” lên họ thì tôi tin rằng tôi có quyền lên tiếng.

Có nhiều người tuy cũng mang cùng niềm tin như trên nhưng vì sự tự chọn lựa hay lý do khác mà chưa bao giờ làm gì hại đến tôi hay thất lễ với tôi (tôi xin cám ơn điều đó). Tuy vậy nếu họ vô tình hay gián tiếp dung dưỡng các thái độ kể trên bằng cách không công nhận chúng có xảy ra hay không công khai phản đối về chúng thì tôi nghĩ tôi có quyền lên tiếng.
***

Tuesday, March 2, 2010

Kỳ Thị

***
Có nhiều tín đồ Thiên Chúa Giáo nói họ không bao giờ kỳ thị người ngoại đạo.

Sống trong một xã hội Tây Phương, đa số người tôi quen biết đều có đạo Thiên Chúa dưới dạng nầy hay dạng khác. Theo nhận xét của tôi, những người càng sùng đạo càng có khuynh hướng kỳ thị. Và có nhiều người kỳ thị mà họ không biết là họ kỳ thị.

Có lẽ nhiều bạn đọc bài viết nầy sẽ lập tức nghĩ: “ai khác thì có thể chớ tôi chắc chắn không kỳ thị người ngoại đạo”. Có thể vì bạn có nhiều người quen, đồng nghiệp, bạn bè là người ngoại đạo mà bạn lúc nào cũng tôn trọng như những cá nhân ngang hàng với bạn về mọi phương diện; bạn xem việc họ không có đạo là một điều riêng tư, riêng biệt và không có ảnh hưởng gì đến mối liên hệ giao tế giữa bạn và họ.

Thật ra nếu muốn biết mình có thật sự kỳ thị hay không thì rất dễ. Bạn chỉ cần làm một cuộc thí nghiệm ngay trong trí tưởng tượng của bạn; điều đòi hỏi duy nhất là bạn phải tuyệt đối thành thật với chính bạn.
Cứ thử tưởng tượng nếu một thành viên trên 21 tuổi trong gia đình bạn một ngày nọ tuyên bố rằng họ sẽ từ bỏ Thiên Chúa Giáo để trở thành một người vô thần. Có thể đây là một đứa con của bạn, hay anh/chị/em hay bạn trai/gái hay vợ/chồng của bạn. Giả sử đây là một người lúc nào cũng chính chắn, trưởng thành trong đời sống và sự suy nghĩ của họ. Họ giải thích tận tường với bạn tại sao họ từ bỏ Thiên Chúa Giáo với những lý do tiêu biểu mà một người vô thần thường dùng.

Hãy thử tưởng tượng cảm giác và phản ứng của bạn khi người đó quyết định đi theo con đường nầy. Bạn nghĩ bạn có bị chấn động vì tin nầy không? Bạn có tìm cách khuyên giải, ngăn cản họ đừng làm chuyện nầy không? Bạn có lấy những lý do tiêu biểu của một tín đồ (thí dụ như Thiên Chúa Giáo là một đạo chân chính, cao cả; những người vô thần không có nền tảng đạo đức; nếu không tin Thiên Chúa như những người khác thì sẽ sa vào địa ngục đời đời; truyền thống phẩm hạnh gia đình là Thiên Chúa Giáo; láng giềng, thân quyến, bạn bè trong giáo xứ sẽ nghĩ sao về chuyện nầy? v.v.) để bàn luận với họ hay không? Hoặc ngay cả nếu như bạn không ở trong vị thế có thể làm được chuyện nầy, những ý nghĩ trên có nằm trong đầu bạn hay không? Tôi nhắc lại, cần phải hết sức thành thật với chính bạn ở chỗ nầy vì đây là một thí nghiệm cho chính bạn – và không ai khác ngoài bạn biết bạn đang nghĩ gì (!)

Nếu bạn trả lời “Không” cho tất cả các câu hỏi vừa rồi thì bạn thật sự là một tín đồ sùng đạo mà không kỳ thị trong lãnh vực nầy; và bạn có thể là người đầu tiên mà tôi biết.

Tương tự, hãy tưởng tượng nếu một đứa con của bạn tuyên bố muốn thành hôn với một người ngoại đạo. Người làm cha mẹ như bạn sẽ có cảm nghĩ và phản ứng như thế nào? Bạn có thể áp dụng cùng những câu hỏi ở trên để tự khảo nghiệm mình. Nhớ rằng cần phải ngay thẳng và chân thật khi trả lời.

Có khi bạn sẽ ngạc nhiên về chính bạn.

***

Monday, March 1, 2010

Một Lời Tự Thú

***
Tôi muốn thú thật một chuyện.

Nhiều lần tôi tự hỏi “Tôi có thật sự muốn làm việc nầy hay không?” “Việc nầy” là việc nói về Thiên Chúa Giáo như tôi đã và đang làm gần đây. Không phải là tôi có nghi vấn trong cách nhìn của tôi về Thiên Chúa Giáo, tôi chỉ lo nghĩ về những người bạn thân có đạo của tôi.

Phần lớn các bạn tôi không hề biết quan điểm của tôi về Thiên Chúa Giáo (lý do giản dị là vì tôi không dám cho họ biết). Một vài người biết về quan điểm nầy đã ngưng không còn là bạn của tôi nữa, đây là một điều đáng buồn. Một số rất ít người tuy biết nhưng vẫn cứ chấp nhận sự khác biệt trong lãnh vực triết lý nầy và tiếp tục làm bạn với tôi, tôi trân trọng biết ơn sự khoan dung và kiên nhẫn của họ (cũng như tình bạn của họ đối với tôi!)

Tôi biết là ngay cả những người bạn đang “chịu đựng” tôi cũng không thể hiểu tại sao tôi làm chuyện nầy và không biết tôi muốn nói gì. Họ sinh ra và lớn lên trong những gia đình Công Giáo tử tế. Suốt đời họ, họ chỉ thấy và biết tình thương, lòng nhân đạo và từ bi chung quanh họ. Họ yêu thích nhạc thánh, những nghi lễ huy hoàng, những không khí thân thiện thương mến trong các buổi sinh hoạt Công Giáo như giúp đỡ người không nhà, gây quỹ cứu trợ từ thiện, v.v. Họ tìm thấy an lành trong việc cầu nguyện, trong những sự thanh tịnh gần như xuất thế khi thiền nghiệm về ý nghĩa tâm linh trong sự sống. Và nhiều thứ như vậy nữa. Họ có lẽ chỉ thấy tôi là một gã điên đang lải nhải về những điều mà tôi không biết và cũng chẳng cần muốn tìm biết.

Vấn đề là tôi nghĩ tôi đã tìm thấy những điều mà không phải ai cũng thấy hay muốn thấy.

Tôi tìm thấy rằng sau lưng những việc tốt lành trong mối quan hệ với Thiên Chúa Giáo - như các thí dụ tôi vừa đưa ra ở trên - là nhiều lãnh vực đen tối về tôn giáo nầy (chú ý: tôi đã không nói "có nhiều điều tốt lành trong Thiên Chúa Giáo"). Những lãnh vực đen tối (nghiêm trọng) nầy thường được che đậy một cách khéo léo sau một bề mặt đầy thương yêu và thân thiện mà nhiều người mến chuộng chỉ tại vì nó đáp ứng và thỏa mản những nhu cầu nhân bản và tâm linh của họ.

Tôi chỉ muốn nói lên những lãnh vực đen tối nầy. Trước nhất là cho chính tôi, và kế đó là cho những người có thể cũng có cái nhìn tương tự nhưng chưa bao giờ có dịp phân tích chúng rõ ràng hay có can đảm để nói thẳng ra .

Tôi cũng muốn cho thấy rằng con người không cần phải nằm trong một tôn giáo lỗi thời và kinh khiếp nầy để có thể đáp ứng cho nhu cầu nhân bản và tâm linh của họ. Nếu một người cảm thấy sự thương yêu, nhân đạo, từ bi trong môi trường tôn giáo thì chẳng qua là vì những phẩm hạnh nầy đã hiện hữu sẵn trong chính họ. Chúng cũng đã có sẵn từ bên trong tất cả mỗi con người, mặc dù có thể với mức độ và cường độ khác nhau. Nguồn gốc của những phẩm hạnh nầy không liên hệ gì đến thánh điều và cũng không phải là tài sản của giáo lý. Nếu một người có khuynh hướng giúp đỡ người vô gia cư hay tổ chức từ thiện thì họ cũng vẫn sẽ làm những chuyện nầy nếu họ không phải là một tín đồ Thiên Chúa Giáo, hay tín đồ của bất cứ tôn giáo nào khác.

Tương tự, các cảm giác bình yên xuất thế cũng có thể cảm nhận được bên ngoài môi trường tôn giáo. Sự sống trong vũ trụ nầy, tuy rằng vô cảm và vô nhân tính, rất bao la và tuyệt vời; thiền nghiệm về đời sống và vũ trụ cũng thường đem đến những cảm nhận huyền diệu tương đương hay vượt xa hẳn những cảm giác tạo ra bởi tôn giáo .

Tôi hiểu tại sao có người cho tôi là "giận dữ". Đó là tại vì chẳng qua họ đang giận dữ về những điều tôi nói ra. Và họ giận dữ có lẽ là vì họ thấy rằng tôi đang làm rung rinh chiếc xe đẩy chở đầy táo của họ. Họ lo sợ rằng khi các trái táo nầy đổ xuống đất rồi thì họ sẽ không biết phải làm gì với chiếc xe đẩy trống không. (Đáng lẽ họ nên thấy rằng có thể đây là một dịp cho họ trút bỏ đi cái gánh nặng tâm linh mà thế hệ trước đã gán đặt lên họ). Bước đi trong cuộc sống với cảm giác không có một thần linh nào trợ giúp có thể là một ý tưởng đáng sợ hãi lúc ban đầu. Tuy vậy khi một người quen dần với bản thể của sự thật và tự tin thêm với chính mình rồi thì điều nầy có thể đem đến một sự bình an đầy hứng khởi.

Có một số người vô thần hiện đang đả phá Thiên Chúa Giáo một cách hung hăng và kịch liệt. Tôi hiểu được tại sao có người thấy việc lấy lý trí, khả năng lý luận và bằng chứng khoa học ra để đả kích đức tin của Thiên Chúa Giáo khá hấp dẫn, và dễ dàng. Chẳng qua là vì cái mục tiêu nầy phản lý trí, phản luận lý và vô đạo đức một cách quá lộ liễu. Nhưng tôi cũng thấy đây là một việc làm không có ích lợi gì và không thuyết phục được ai. Việc đầu tiên xảy ra là các tín đồ sẽ giàn dựng lên một bức tường phòng thủ chung quanh họ, và sau đó thì không cách gì còn có thể có những cuộc trao đổi tư tưởng thành thật và thoải mái được nữa.

Tôi chỉ muốn biết tại sao có những điều quá giản dị và dễ hiểu đối với tôi mà nhiều người khác không thể thấy được. Có thể nào vì cái nhìn của tôi sai sót điều gì chăng? Hay là tôi phân tích quá nhiều, quá kỹ? Càng tìm kiếm tôi càng gặp thêm nhiều điều đáng nghi ngại trong nhiều phương diện. Tôi có nhiều câu hỏi về đức tin và thánh điều của Thiên Chúa Giáo mà cho đến nay chưa ai có thể trả lời được một cách thỏa đáng. Tôi ao ước phải chi có ai đó thông thạo về Thiên Chúa Giáo có thể cho tôi những câu trả lời trực tiếp và chân thật mà tôi đang tìm kiếm. Vì không tìm được những câu trả lời nầy nên tôi chỉ có thể dùng các nhận xét của riêng tôi để đi đến những cái nhìn hiện tại về tôn giáo nầy.

Tôi không muốn bị cho là "hung hản" khi bày tỏ cách nhìn của tôi. Điều nầy không dễ dàng. Lúc nào cũng có người muốn bịt miệng tôi lại và tiêu diệt tôi bằng bất cứ mọi giá. Điều nầy không vui sướng gì nhưng tôi dần dần cũng đã quen. Việc tôi lo nghĩ nhất là tôi biết khi tuyên bố ra những ý tưởng thật sự của tôi, tôi đang làm các người bạn có đạo của tôi cảm thấy bị xúc phạm và họ có thể cắt đứt tình bạn với tôi vì lý do đó.

Muốn cân bằng giữa phát biểu những gì tôi rất muốn phát biểu và gìn giữ những gì tôi quý giá là một điều vô cùng khó khăn. Có nhiều khi tôi nghĩ đến bỏ cuộc. Tôi không muốn bị coi là một người phá rối, dù là bởi những người không còn là bạn của tôi nữa.

Tôi tự hỏi không biết những người mang lý tưởng phục vụ sự thật sẽ làm gì?
***