Kinh Thánh là một tập hợp của khoảng 66 đến 86 tập kinh khác nhau (tùy cách đếm và giáo phái), được đặt mã số cho từng chương, từng câu để dễ việc tham khảo.
Phần đông tín đồ Thiên Chúa Giáo nghĩ rằng Kinh Thánh là lời truyền dạy của Chúa Trời đã được ghi lại và giữ nguyên bản từ hàng ngàn năm về trước.
Sự thật khác hẳn.
Mục lục và nội dung của Kim Ước, cũng như Cựu Ước, đã thay đổi và được tranh cãi không ngừng bởi các giáo phái Thiên Chúa Giáo qua nhiều thế kỷ. Quyển Kim Ước mà tín đồ dùng ngày nay là một sản phẩm khá cận đại. Cấu trúc của Kim Ước biến đổi hầu như liên tục từ đầu thế kỷ thứ nhất cho đến cuối thế kỷ thứ 16 mới dừng lại. Ngay cả đến cuối thế kỷ thứ 19 và đầu thế kỷ thứ 20 vẫn còn có vài sửa đổi nhỏ (nhưng không phải không đáng kể) xảy ra trong Kinh Thánh của Công Giáo.
Cả hai Cựu Ước và Kim Ước đều có nguồn gốc từ kinh Do Thái Giáo.
Kinh Do Thái Giáo là vô số huyền thoại kể truyền miệng qua hàng ngàn năm từ đời nầy qua đời khác trong các bộ lạc cổ Trung Đông trước khi được ghi chép lại bằng chữ viết. Có nguồn cho rằng kinh Do Thái Giáo được ghi chép vào giữa thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 7 trước Công Nguyên, có nguồn cho rằng giữa thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên. Kinh Do Thái gồm có 24 tập kinh khác nhau viết bằng tiếng Do Thái Cổ.
Kinh Cựu Ước là tổng hợp một số tập kinh lấy từ kinh Do Thái Giáo cộng với một số các tập kinh khác không có trong kinh Do Thái Giáo. Có nguồn cho là kinh Cựu Ước được biên soạn ra giữa thế kỷ 12 và thế kỷ 2 trước Công Nguyên. Các tập kinh của kinh Cựu Ước lúc đầu được viết bằng tiếng Do Thái Cổ và Hy Lạp.
Ngay các sử gia Công Giáo cũng công nhận rằng họ không biết rõ ai đã tổng hợp các tập kinh cổ lại và ai đã đứng cương vị gì để “thánh hóa” kinh Cựu Ước. “Thánh hóa” có nghĩa là chính thức công nhận của quyển Kinh Thánh của họ có giá trị thiêng liêng (hay là “đã được cảm nhận từ Thiên Linh”).
Kinh Cựu Ước của mỗi giáo phái trong Công Giáo, Chính Thống Giáo và Tin Lành đều khác nhau đôi chút. Mỗi giáo phái công nhận hoặc bác bỏ một số những tập kinh khác nhau khi tập hợp chúng lại để làm thành quyển Kinh Cựu Ước của mình. (Công Giáo: 46 tập, Chính Thống Giáo: 53-56 tập, Tin Lành và Anh Giáo: 39 tập)
Trong lúc Giê Su còn sống, ông và các đồ đệ của ông dựa vào kinh Cựu Ước để truyền bá niềm tín ngưỡng của họ.
Sau khi Giê Su chết, các tín đồ của Giê Su vẫn tiếp tục dùng kinh Cựu Ước. Đến khoảng 45 năm đến năm 140 sau khi Giê Su chết, các đồ đệ của Giê Su bắt đầu biên soạn các tập sử ghi chép lại cuộc đời và lời dạy của Giê Su. Nhiều tu sĩ trong các thế hệ nối tiếp những đồ đệ của Giê Su cũng viết nhiều văn kiện tương tự theo cái nhìn và sự hiểu biết của họ. Một số các văn kiện nầy được đọc lên kèm theo với kinh Cựu Ước trong các nghi lễ.
Có nguồn cho rằng các văn kiện đầu tiên nầy được viết bằng tiếng Hy Lạp Cổ rồi sau đó được dịch ra các ngôn ngữ khác như Latin, Ai Cập, v.v. Có nguồn cho rằng các văn kiện đầu tiên nầy được viết bằng tiếng Do Thái Cổ.
Trong khoảng thời gian 3 thế kỷ đầu tiên, có rất nhiều bất đồng ý kiến và tranh cãi xảy ra giữa các lãnh tụ Thiên Chúa Giáo về giá trị và sự chính xác của các văn kiện nầy. Quan trọng nhất là sự bất đồng ý về các Ẩn Kinh (là các văn kiện tuy đã hiện hữu từ ban đầu và được cho rằng của các đồ đệ của Giê Su nhưng không bao giờ được công nhận bởi một số các giáo phái).
Tuy đã có vài tu sĩ thời đó muốn phối hợp một số các văn kiện trên lại thành một quyển Kinh Thánh duy nhất nhưng các nỗ lực đó đều không thành công vì các sự bất đồng ý kiến và tranh cãi nầy. Trong tất cả các văn kiện (hay “tập kinh”) hiện hữu, chỉ có 4 tập Tin Mừng của Matthew, Mac, Lucca và Ghoan là được mọi người đều nhìn nhận ở thời điểm đó. Đây là một lý do chính làm cho Thiên Chúa Giáo chia ra nhiều giáo phái khác nhau.
Giữa các giáo phái trong Thiên Chúa Giáo vào cuối thế kỷ thứ 3 có tổng cộng khoảng hơn 40 tập Tin Mừng khác nhau (ngoài 4 tập Tin Mừng của Matthew, Mac, Lucca và Ghoan), khoảng 40 Sách Công Vụ Tông Đồ, hơn 10 Sách Khải Huyền và hàng trăm bức thư của các Thánh. Mỗi giáo phái dùng một số văn kiện khác nhau trong việc nghi lễ của họ kèm theo với kinh Cựu Ước. Ở thời điểm nầy, không văn kiện nào được coi là do cảm nhận từ Thánh Linh.
Chỉ đến cuối thế kỷ thứ 4, quan niệm “thánh hóa” mới được Giám mục Athanasius của Alexandria đưa ra lần đầu tiên khi ông đề nghị bản danh sách của 27 văn kiện nên dùng để tạo ra một quyển Kinh Thánh thống nhất cho mọi người.
Trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 4 trở đi, tuy nói chung tín đồ Thiên Chúa Giáo đều đồng ý công nhận một số lớn các văn kiện nầy nhưng trên thực tế vẫn có rất nhiều quyển Kinh Thánh khác nhau của mỗi giáo hội khác nhau, mỗi quyển là một tập hợp khác nhau của các văn kiện khác nhau. Nói cách khác, các giáo hội nầy không thể hoàn toàn thống nhất được văn kiện nào có thể coi là đã được cảm nhận từ Thánh Linh.
Sự bất đồng ý kiến nầy tạo ra một sự chia rẽ trầm trọng giữa các giáo hội khác nhau trên lý thuyết tín ngưỡng cơ bản của tôn giáo họ. Thời bấy giờ, Thiên Chúa Giáo đóng một vai trò chính yếu trong cơ cấu chính quyền của các nước Âu Châu. Khi Thiên Chúa Giáo bành trướng càng ngày càng lớn mạnh, sự chia rẽ trên phương diện lý thuyết tín ngưỡng nầy thật sự đe dọa sự ổn định chính trị lẫn cán cân quân sự giữa các cường quốc Âu Châu đương thời.
Có nhiều hội đồng giáo định được thành lập từ thế kỷ thứ 4 trở đi trong nỗ lực giải quyết sự khác biệt tư tưởng nầy. Các hội đồng giám định nầy khảo nghiệm cặn kẽ từng văn kiện trước khi biểu quyết giá trị của nó. Qua nhiều thế kỷ, qua nhiều hội nghị khác nhau, mục tiêu hòa hợp và hòa giải vẫn không đạt được. Những quyết định của các hội đồng giáo định nầy thường không thỏa đáng và không đồng nhất. Có nhiều văn kiện và giáo định của những hội đồng trước bị các hội đồng sau bác bỏ, và ngược lại.
Trong thế kỷ thứ 16, sự chia rẽ đáng kể nhất về triết lý tôn giáo trong Thiên Chúa Giáo xảy ra giữa Công Giáo và Tinh Lành. Đồng thời trong thế kỷ thứ 16, chiến tranh xảy ra khốc liệt và lan tràn giữa các nước như Anh, Pháp, Đức và Thổ Nhĩ Kỳ. Các nhà lãnh tụ quốc gia lẫn tôn giáo đều nhận thấy một sự tối cần thiết để giải quyết ổn thỏa mau chóng và thân thiện về sự khác biệt tín ngưỡng nầy. Sự kiện nầy có một ảnh hưởng lớn đến các hội đồng giáo định khi họ thảo luận và biểu quyết về “giá trị thiêng liêng” của các tập kinh trong Kinh Thánh.
Cuối cùng, vào những năm cuối thế kỷ 16 thì quá trình thánh hóa các “văn kiện được công nhận” mới xảy ra chính thức cho các giáo hội. Hội đồng giáo định của Công Giáo (Council of Trent) đã biểu quyết và chính thức tuyên bố công nhận mục lục và nội dung của quyển Kinh Thánh của họ vào năm 1546; hội đồng giáo định của Anh Giáo (qua Ba Mươi Chín Văn Bản) năm 1563; hội đồng giáo định của Tin Lành (qua Hội Nghị Westminster) năm 1647; hội đồng giáo định của Chính Thống Giáo (qua Hội Nghị Jesusalem) năm 1672.
Qua quá trình biểu quyết trên, có những tập kinh được công nhận mặc dù trong quá khứ chúng đã bị chối bỏ; có những tập kinh bị chối bỏ mặc dù trong quá khứ chúng đã được công nhận; có những tập kinh được công nhận bởi giáo hội nầy nhưng bị chối bỏ bởi giáo hội khác, và ngược lại.
Những tập kinh được biểu quyết bởi các hội đồng giáo định kể trên đều nói chung được giữ nguyên không đổi cho đến ngày hôm nay.
Tuy vậy, gần đây có một vài thay đổi tuy nhỏ nhưng đáng kể xảy ra trong Kinh Thánh Công Giáo. Năm 1870, một số chi tiết được thêm vào trong sách Tin Mừng của Mac-Cô, Luca, Ghoan. Ngày 2 tháng 6 năm 1926, Đức Giáo Hoàng Pius XI tuyên bố Tòa Thánh không còn công nhận “Comma Johanneum” nữa (“comma” là những đoạn ghi chú thỉnh thoảng được các soạn giả cố ý thêm vào từ đầu thế kỷ thứ 3 cho đến nhiều nhất là khoảng thế kỷ 16. “Comma Johanneum” là các ghi chú bởi Desiderius Erasmus of Rotterdam và thế kỷ 16).
Luận diễn
1. Một điều cần biết là cho đến khi máy in Gutenberg được sáng chế vào thế kỷ 15 thì tất cả các kinh sách đều được sao chép bằng tay. Trong thời bấy giờ, số người biết đọc và viết rất ít, và hầu như tất cả những người nầy đều là tu sĩ. Những tu sĩ nầy làm việc cho những giáo hội có những cái nhìn khác nhau về Kinh Thánh. Điều nầy có nghĩa là nội dung của các quyển Kinh Thánh thời bấy giờ rất dễ bị thay đổi hoặc vì lỗi lầm vô tình hoặc vì cố ý biến sửa để làm thích hợp hơn với quan điểm của những lãnh tụ giáo hội.
2. Một điều khác cần chú ý là danh sách các tập kinh được cho vào Kinh Thánh đã được các hội đồng giáo định quyết định bằng phương pháp biểu quyết. Các thành viên của các hội đồng nầy đã dùng trí phán đoán của họ để bỏ phiếu cho những tập kinh mà họ tin rằng có giá trị thiêng liêng. Nói một cách khác, những văn kiện có nhiều phiếu nhất sẽ trở thành những tập kinh “đã được cảm nhận từ Thánh Linh”. Sự kiện “bỏ phiếu” nầy cho thấy chính con người đã gán đặt những giá trị thiêng liêng lên các văn kiện trên.
3. Câu hỏi “Làm sao biết chắc được những chi tiết trong Kinh Thánh đã được cảm nhận từ Thánh Linh mà không phải là hoàn toàn do trí tưởng tượng của con người?” luôn luôn là đề tài bàn cãi sôi nổi từ 2000 năm nay. Có những học giả tôn giáo cho rằng cả 2 trường hợp đều đúng cả: “Kinh Thánh đã được Thượng Đế truyền dẫn từng câu từng chữ qua người viết nhưng đồng thời người viết cũng vẫn có thể diễn tả những câu chữ nầy dựa theo cái nhìn và tính khí của cá nhân”. Có nhiều người cho đây chỉ là một mưu lược để bao che mọi phía: cho phép Kinh Thánh mang một giá trị thiêng liêng đồng thời dùng nhân tính giới hạn để chống đỡ cho những thiếu sót sai lỗi khi cần thiết.
4. Sự hiện hữu của hàng ngàn quyển Kinh Thánh khác nhau bởi nhiều giáo phái khác nhau trong lịch sử cho thấy Kinh Thánh rất khó có thể là một tác phẩm đã được khải huyền từ một đấng Thượng Đế toàn năng, toàn diện. Sự biến đổi không ngừng của Kinh Thánh lệ thuộc trực tiếp vào từng chi tiết của các cuộc xung khắc và tranh cãi giữa những giáo phái đối nghịch nhau qua gần 16 thế kỷ hỗ trợ cái nhìn vừa nêu lên.
5. Những chi tiết về lịch sử của Kinh Thánh được trình bày ở trên đây đều được ghi chép rõ ràng trong thư viện của các giáo phái. Tất cả tu sĩ Thiên Chúa Giáo trong quá trình học tập để tốt nghiệp đều được học về phần lịch sử nầy. Nếu một tín đồ “bình thường” tuyên bố rằng Kinh Thánh đã không hề thay đổi qua hàng ngàn năm nay, họ có thể bị xem là một người kém hiểu biết về vấn đề nầy. Tuy nhiên, nếu một tu sĩ hay một tổ chức của bất cứ giáo phái Thiên Chúa Giáo nào tuyên bố những câu tương tự, họ chỉ có thể được xem là thiếu thành thật và đang cố ý lừa dối người khác.
(dựa vào tổng hợp nhiều tài liệu sưu tập)
******
No comments:
Post a Comment