Saturday, February 27, 2010

Luật Chơi Đặc Biệt

***
Tưởng tượng hai người chơi đánh cờ, cờ bình thường với những con cờ và những luật lệ bình thường. Tuy nhiên, một người có một lá cờ nhỏ đặc biệt. Khi nào ông ta muốn, ông ta có thể đưa lá cờ nầy lên thì luật lệ của trò chơi không còn áp dụng cho ông nữa. Có nghĩa là ông có thể đi các con cờ của ông theo bất cứ cách gì ông muốn.

Tranh luận về vấn đề tín ngưỡng với nhiều tín đồ Thiên Chúa Giáo cũng giống như chơi cờ với một người có lá cờ đặc biệt nầy. Mỗi lần bị cùng đường thì họ đưa cây cờ “đức tin” của họ ra. Họ muốn tất cả các luật lệ trong cuộc tranh luận không còn áp dụng cho họ nữa. Họ không cần phải chứng minh cũng như không cần phải có bằng chứng gì để hỗ trợ cho những điều họ đang tranh luận. Bất cứ họ nói điều gì đều phải được coi là sự thật, đúng và tuyệt đối.

Họ cũng sẽ lớn tiếng phản đối kịch liệt nếu người kia có phạm nhẹ vào những luật lệ mà chính họ không cần phải tuân theo.

Rồi họ tuyên bố rằng lối chơi cờ của họ là “chân lý”, “công bằng” và “đạo đức”.
***

Friday, February 26, 2010

Người Vô Thần trong Chiến Hào

***
Nhiều tín đồ nhắc đến câu “Không có kẻ vô thần nào ở dưới chiến hào cả” (“There are no atheists in foxholes”) khi thảo luận về “đức tin”.

Ý họ muốn nói là trong những hoàn cảnh hiểm nghèo, vô vọng thì con người mới thấy mình nhỏ bé, yếu đuối, bất lực và từ đó mới cầu khẩn Thượng Đế cứu giúp và mới tin là có Thượng Đế.

Câu nầy thật ra rất đúng đối với rất nhiều người. 

Tuy nhiên, câu trên không thể nào dùng để chứng minh rằng ý niệm “vô thần” là sai lầm hay người vô thần là nông cạn, yếu đuối cả.

Câu trên chỉ diễn tả một bản chất yếu đuối tự nhiên của con người. Khi đứng trước hiểm nguy, bản năng sinh tồn trong con người làm cho họ cần và muốn được bảo vệ, cứu giúp. Trong những trường hợp vô vọng, họ có khuynh hướng nghĩ đến cá thể siêu nhiên nào đó có quyền lực vô cùng vĩ đại hơn họ. 

Thật ra, câu trên chứng tỏ rằng ý niệm “Thượng Đế” (và từ đó, sự thành hình của tôn giáo) phát xuất từ sự sợ hãi mà ra.

Hitler đã từng nói với Giám Mục Michael von Faulhaber ở Bavaria (1936) rằng: “Người ta không thể hiện hữu không có niềm tin vào Thượng Đế. Các binh sĩ nằm bốn, năm ngày chịu đựng hỏa pháo nặng nề cần một sự chống chỏi bằng tôn giáo”.

“Một sự chống chỏi bằng tôn giáo”. Điều nầy cho thấy Hitler là một người rất tinh khôn khi đưa ra và dùng nhận xét trên trong việc quản lý tinh thần binh sĩ. Tuy nhiên, một niềm tin xuất phát từ sự sợ hãi chỉ là một dụng cụ được tạo ra do nhu cầu cần thiết. Nó không phải là một niềm tin xuất phát chân chính từ trái tim, nó không phải từ lý tưởng tâm linh cao quý. Một số người vô thần ví đức tin trong tôn giáo như là một cái nạng; nếu sự ví von đó có thích hợp thì có lẽ đây là một trường hợp mà nó có thể áp dụng xác thực nhất. Các tín đồ đáng lẽ không nên quảng bá sự so sánh đức tin của họ với một cái nạng (vì chính họ đang vô tình làm điều nầy khi nêu ra câu “không có kẻ vô thần trong chiến hào”).

Hơn nữa, câu trên không đúng với tất cả mọi người. Có rất nhiều trường hợp những tín đồ sùng đạo suốt đời cho đến một ngày nào đó lâm cảnh đau khổ cùng cực chợt tỉnh ngộ ra rằng nếu thật sự có Thượng Đế yêu thương bảo bọc họ như đã hứa hẹn thì họ đã chẳng nằm trong cảnh ngộ đó. Có những chiến binh sống sót sau các trận chiến kinh hoàng chợt thấy rằng không có Thượng Đế từ bi toàn năng nào lại có thể để cảnh chết chóc thê thảm chung quanh họ xảy ra. Những người nầy từ đó quẳng bỏ đi cái ảo tưởng về Thượng Đế mà họ đã ôm ấp suốt đời họ.

Khi nào có ai đưa ra câu “Không có kẻ vô thần nào ở dưới chiến hào cả” để tranh luận cho ý niệm “đức tin” thì có lẽ họ cần nên được nhắc rằng “Có những người không cần phải nằm dưới chiến hào mà vẫn suốt đời luôn luôn co ro kinh sợ”
***

Một Thượng Đế Ít Hơn

***
Steven Roberts từng nói:  “Tôi cho rằng bạn và tôi cùng là vô thần như nhau . Danh sách thượng đế tôi tin chỉ nhỏ hơn một số so với danh sách thượng đế bạn tin. Khi bạn hiểu tại sao bạn không tin tất cả các thượng đế khác thì bạn sẽ hiểu tại sao tôi không tin thượng đế của bạn.”

Nói theo cách tôi: “Lý do tại sao tôi phủ nhận thượng đế của bạn cũng chính là lý do tại sao bạn phủ nhận tất cả những thượng đế khác.”
***

Wednesday, February 24, 2010

Một Câu Hỏi Không có Câu Trả Lời

***
Có người nói “Nếu không có Thượng đế dạy con người phải thương yêu lẫn nhau thì thế giới nầy đã tràn ngập tội lỗi rồi”

Điều cần biết là:

- Có những người ngoài quyền lợi của họ còn nghĩ đến quyền lợi người khác.
- Có những người chỉ nghĩ đến quyền lợi của chính họ.
- Có những người tìm thấy sự khoái cảm khi hại người khác.
- v.v.

Đây chỉ là những hiện tượng tâm sinh lý tự nhiên xảy ra trong con người, và những động vật cao cấp khác như khỉ vượn, cá heo, voi, chó, v.v.

Hơn nữa, nước Mỹ là một nước mà Thiên Chúa Giáo chiếm ít nhất 85% trong dân số trong khi các nước như Na Uy, Thụy Sĩ, Đan Mạch có tối đa chưa đến 20% dân số theo Ki Tô giáo. Nếu cho là Thượng đế là nền tảng của đạo đức thì tại sao thống kê gần nhất cho thấy tỉ lệ tội phạm giết người ở Mỹ lại khoảng 20 lần cao hơn ở Na Uy, Thụy Sĩ và Đan Mạch?

(http://www.nationmaster.com/graph/cri_mur_percap-crime-murders-per-capita)
***

Sự Chết

***
Có người vừa hỏi cái nhìn của tôi về sự chết và chuyện gì xảy ra sau khi chết.

Đây là một câu hỏi rất lớn. Tôi đáng lẽ cần có nhiều thời giờ hơn để soạn thảo một câu trả lời đầy đủ và thích đáng. Tuy nhiên tôi hy vọng sẽ diễn tả được sơ lược ý tưởng của tôi về vấn đề nầy dưới đây.

Câu trả lời ngắn của tôi là: 

Sự chết là một phần không thể tránh được của sự sống và trong đời sống. Tôi không biết và tin rằng không ai có thể biết chắc chuyện gì xảy ra sau khi chết.

Câu trả lời dài của tôi là:

Vì sự chết là một phần của đời sống, chúng ta cần và nên thảo luận về sự chết với một tư cách giống như thảo luận các hiện tượng khác trong đời sống. 

Không ai có thể tránh được sự chết cả, thế thì chúng ta nên cứ tiếp nhận nó khi nó đến. Có lo âu cũng vô ích. Theo bản năng sinh tồn tự nhiên, chúng ta cần và sẽ làm mọi cách để tránh sự chết (để kéo dài sự sống) càng lâu càng tốt. Tuy nhiên chúng ta nên đồng thời chuẩn bị (tinh thần và tâm linh chúng ta) cho sự chết. Một trong những cách chuẩn bị là thường xuyên tự nhắc nhở chúng ta rằng sự chết có thể xảy đến bất kỳ ai, bất kỳ lúc nào, bất kỳ ở đâu. Chúng ta cần nhớ rằng trong mỗi giây phút còn sống chúng ta nên sống cho giá trị thật sự của cuộc sống và của chính mình. Hãy hưởng thụ và ứng dụng cái thiện, cái chân, cái mỹ của nhân loại và vũ trụ trong khoảnh giờ khắc chúng ta còn kiểm soát được (phần nào) sự hiện hữu của mình. Nếu có chuẩn bị kỹ càng và lâu dài, khi cái chết đến thì rất có thể chúng ta sẽ không kinh hãi hay tiếc nuối giống như chúng ta rất có thể sẽ kinh hãi và tiếc nuối nếu chúng ta không chuẩn bị gì hết. 

Một vấn đề nhỏ ở đây: Tôi tin ở định luật bảo toàn năng lượng. Tôi không chống đối tư tưởng cho rằng ngoài cái thể xác vật chất cấu tạo bởi những tế bào nầy cũng có thể còn có một dạng năng lượng khác hoạt động song song để tạo ra cá thể toàn bộ, có nghĩa là cái Tôi, của mỗi người. “Có thể” thôi, vì chưa ai đã chứng minh được bằng phương pháp khoa học về chuyện nầy. Cho dù có thể chứng minh được là có phần năng lượng nầy, theo tôi nó có thể còn hay không còn lưu trữ các cá tính của cái Tôi sau khi bộ óc bằng vật chất ngừng làm việc. Cũng vậy, chưa ai có thể chứng minh được điều nầy. 

Tuy nhiên, vấn đề “dạng năng lượng khác” ở trên không quan trọng lắm ở thời điểm hiện tại. Cho đến khi khoa học có thể chứng minh được rõ ràng chuyện gì xảy ra sau khi chết, tất cả giải thích đều là những ước đoán. Những lời hứa hẹn và “khẳng định” của tôn giáo về thiên đàng hay địa ngục đều toàn là những ảo vọng, những mơ tưởng vô căn cứ.

Tôi nhìn cái chết như một chuyến đi xa. Không biết lúc nào sẽ đi và không biết sẽ đi đâu. Và vì biết một khi đã đi thì sẽ không bao giờ trở lại nên tôi có khuynh hướng sống với người thân, với bạn bè, với mọi người và với chính tôi như thể chuyến đi của tôi có thể xảy ra vào ngày mai. Với vị thế nầy, tôi có khuynh hướng nhìn từng ngọnm cỏ chiếc lá; nghe từng lời nói, tiếng động với những cảm nhận sắc bén và sâu thấm hơn. Nói một cách khác, tôi có khuynh hướng sống một đời sống trọn vẹn hơn.

Tôi không thấy cần thiết để tự lừa dối với tôi rằng có một Thượng Đế sẽ cứu rỗi và kéo dài đời sống nầy mãi mãi về sau cho tôi. Nhất là lời hứa hẹn đó phải trả bằng một cái giá quá đắt: phải làm nô lệ và từ bỏ lý trí của tôi, hạn chế đời sống của tôi để tùng phục một cách mù quáng những giáo điều điên rồ và phản nhân vị. Tôi không thấy cần thiết phải cầu vọng một sự tồn tại mãi mãi sau khi chết. Nếu (một chữ “Nếu” rất lớn) nó có xảy ra thì dù tôi không muốn nó cũng vẫn sẽ xảy ra; nếu nó không xảy ra thì bất kể bao nhiều lời cầu xin van lạy những bức tượng gỗ của tôi cũng sẽ không làm cho nó xảy ra. 

Sự sống và cuộc sống của tôi đang nằm tại đây với tôi, một phần lớn ngay trong tay tôi. Tôi không thấy cần thiết để tạo dựng và rao bán những ảo vọng vô căn cứ loại nầy, cũng như tôi không cho việc rao bán nầy là một việc làm có đạo đức. Nếu tôi là một người bán trứng và không biết những quả trứng tôi đang bán có thối hay không thì tôi sẽ không thể nào rêu rao “bảo đảm” là trứng tôi bán không thối. Tôi không chấp nhận lối lý luận “phải có niềm tin là nó không thối thì nó sẽ không thối”.

Trừ khi vô tình hay cố ý tôi muốn dùng nó để lường gạt người khác, và chính tôi.
***

Monday, February 22, 2010

Tôn Giáo vs Khoa Học

***
Ưu điểm của khoa học là ở chổ nó biết giá trị tương đối của nó và biên giới của sự tương đối nầy.

Nhược điểm của tôn giáo là ở chổ nó đòi hỏi giá trị tuyệt đối và không biết biên giới cho sự đòi hỏi nầy.
***

Đức Tin

***
Thiên Chúa Giáo là một nền tín ngưỡng dựa hoàn toàn trên “đức tin”. “Đức tin” là một khái niệm đòi hỏi sự chấp nhận tuyệt đối không được chất vấn. Nhiều thứ gọi là “phép mầu” trong Thiên Chúa Giáo được chấp nhận dưới danh nghĩa “đức tin”. Vài thí dụ là đồng trinh sinh con, đi trên mặt nước, sống dậy sau khi chết, v.v. Trong khi đó nếu cũng những việc nầy xảy ra ở những lãnh vực khác trong đời sống thì chính các tín đồ cũng sẽ cho chúng là vớ vẩn, mê tín dị đoan và vô lý khôn tả.

Điều đó cũng có thể chấp nhận được, nếu tín đồ chỉ giữ niềm tín ngưỡng của họ cho riêng họ mà thôi. Phần đông ai cũng tôn trọng. hay ít nhất dung thứ được, nếu niềm tín ngưỡng của người khác không ảnh hưởng đến họ.

Tuy nhiên, Thiên Chúa Giáo là một đạo hiếu chiến. Tôn giáo nầy đòi hỏi một cương vị độc tôn cho Thượng Đế và những nguyên tắc của họ. Tín đồ Thiên Chúa Giáo tin rằng con đường họ đi và chân lý của họ siêu việt hơn của bất cứ ai hết. Tín đồ Thiên Chúa Giáo tin rằng đạo của họ là nền tảng của đạo đức. Tín đồ Thiên Chúa Giáo muốn áp đặt luật lệ và tiêu chuẩn của họ lên trên cao hơn tất cả những luật lệ và tiêu chuẩn khác.

Một điều không chối cãi được là Thiên Chúa Giáo đã trở thành một tôn giáo bành trướng rộng nhất và mạnh nhất trong những quốc gia như Mỹ. Bành trướng rộng nhất vì con số tín đồ đông nhất; mạnh nhất vì trong số những tín đồ nầy có nhiều người nắm giữ các địa vị quan trọng nhất trong giới cầm quyền của những quốc gia nầy.

Những tín đồ Thiên Chúa sùng đạo có chức sắc nầy thường dùng quan điểm tôn giáo của họ để làm nền tảng và cơ sở cho việc soạn thảo chính sách hay luật lệ. Đây là những chính sách liên quan đến các vấn đề y tế (cắt ngân khoản tài trợ các chương trình khảo nghiệm về tế bào gốc, cấm phá thai vì những điều nầy là tà độc), đến các vấn đề tính dục (ra luật cấm hôn nhân đồng tính vì đồng tính luyến ái là bệnh hoạn và dơ bẩn), đến các vấn đề giáo dục (dạy trẻ con những điều phản khoa học như trái đất chỉ có 6000 năm tuổi, khủng long đã sống cùng thời với con người, người đàn ông đầu tiên được làm bằng bùn đất và người đàn bà đầu tiên được làm bằng xương sườn của người đàn ông), đến các vấn đề riêng tư nhất (không cho bệnh nhân quyền được tự chọn cái chết để tránh kéo dài sự đau đớn vô ích vì điều nầy trái lời dạy của Thiên Chúa), v.v.

Những chính sách nầy có tác động tiêu cực trực tiếp lên đời sống của người khác. Có nghĩa là niềm tin của những tín đồ Thiên Chúa Giáo có tác động tiêu cực trực tiếp lên đời sống của người khác.

Đó là chưa kể vô số tín đồ Thiên Chúa Giáo “bình thường” khác mang trong đầu thành kiến rằng những người vô tôn giáo không thể sống một đời sống đạo đức vì nếu không có Thượng Đế soi sáng thì làm sao họ có thể biết đạo đức là gì (!) Nhiều tín đồ không nói ra điều nầy nhưng hành động và thái độ của họ cho thấy rõ sự khinh miệt những người vô tôn giáo.

Người ta có quyền lên tiếng chống đối về sự can dự không mời gọi và những thái độ xúc phạm nầy từ những giáo điều Thiên Chúa Giáo lên trên đời sống của họ.
Do đó, người ta có quyền lên tiếng phản ứng về ý niệm và cách áp dụng “đức tin” của Thiên Chúa Giáo.
***

Một Câu Chuyện Quen Thuộc

***
Tại một hội chợ triển lãm thú vật, một nông dân hãnh diện tuyên bố ông có một con dê trắng tuyệt nhất chưa từng có trong cả nước.

Một người quan sát chỉ cho ông thấy rằng con dê nầy không phải tuyệt trắng vì nó có nhiều vệt đen trên mình nó.

Ông nông dân chống đối: “Nhưng đây là một con dê khỏe mạnh nhất!”

Người quan sát nói: “Chúng ta không nói về khỏe mạnh, chúng ta đang nói về tuyệt trắng”.

Nông dân: “Nhưng đây là một con dê đẹp nhất!”

Người quan sát: “Chúng ta không nói về đẹp, chúng ta đang nói về tuyệt trắng”.

Nông dân: “Được rồi. Nó trắng ở đây, ở đây, ở đây”, ông chỉ những chỗ trắng trên mình con dê.

Người quan sát: “Nhưng nó đen ở đây, ở đây, ở đây”, ông chỉ những chỗ khác rõ ràng màu đen.

Nông dân: “Nhưng những chỗ trắng nầy quan trọng hơn. Chúng ta nên chỉ chú trọng vào những chỗ màu trắng xinh đẹp nầy. Chúng ta không nên nhìn đến những chỗ … ơmm … không trắng đó. Đúng rồi, những chỗ đó không phải đen. Chúng chỉ không trắng mà thôi. Chúng không đáng kể. Chúng ta không thể chấm điểm con dê dựa trên những chổ không trắng đó.”

Người quan sát: “Tôi chỉ muốn chỉ cho thấy rằng con dê không tuyệt trắng như ông tuyên bố. Con dê của ông chỉ là một con dê tầm thường như bao nhiêu con dê khác hôm nay ở đây và trong các hội chợ đã qua.”

Nông dân: “Ai muốn nói gì thì nói, tôi tin rằng con dê của tôi trắng tuyệt hơn cả bất cứ con dê nào khác trong toàn quốc.”

Người quan sát: “Tôi không thể tin giống như ông được. Tôi không thể bỏ phiếu bầu cho con dê của ông.”

Nông dân (giận dữ): “Đúng là một người không có lòng tin nhỏ mọn và thiếu bao dung!!”
***

Saturday, February 20, 2010

Lý Luận Vòng Tròn

***
Khi đứng trước câu hỏi “Làm thế nào để biết Kinh Thánh nói sự thật?”, có người trả lời: “Chúa Trời phán truyền qua Kinh Thánh, do đó Kinh Thánh nói sự thật”.

Khi đứng trước câu hỏi “Làm thế nào để biết Chúa Trời hiện hữu?”, cũng người ấy trả lời: “Kinh Thánh nói rằng Chúa Trời hiện hữu, do đó Chúa Trời hiện hữu”

Rồi người ấy kết luận rằng: “Do đó Kinh Thánh nói sự thật và Chúa Trời hiện hữu”.
***

Friday, February 19, 2010

Lịch Sử của Kinh Thánh

***
Kinh Thánh là một tập hợp của khoảng 66 đến 86 tập kinh khác nhau (tùy cách đếm và giáo phái), được đặt mã số cho từng chương, từng câu để dễ việc tham khảo.

Phần đông tín đồ Thiên Chúa Giáo nghĩ rằng Kinh Thánh là lời truyền dạy của Chúa Trời đã được ghi lại và giữ nguyên bản từ hàng ngàn năm về trước.

Sự thật khác hẳn.

Mục lục và nội dung của Kim Ước, cũng như Cựu Ước, đã thay đổi và được tranh cãi không ngừng bởi các giáo phái Thiên Chúa Giáo qua nhiều thế kỷ. Quyển Kim Ước mà tín đồ dùng ngày nay là một sản phẩm khá cận đại. Cấu trúc của Kim Ước biến đổi hầu như liên tục từ đầu thế kỷ thứ nhất cho đến cuối thế kỷ thứ 16 mới dừng lại. Ngay cả đến cuối thế kỷ thứ 19 và đầu thế kỷ thứ 20 vẫn còn có vài sửa đổi nhỏ (nhưng không phải không đáng kể) xảy ra trong Kinh Thánh của Công Giáo.

Cả hai Cựu Ước và Kim Ước đều có nguồn gốc từ kinh Do Thái Giáo.

Kinh Do Thái Giáo là vô số huyền thoại kể truyền miệng qua hàng ngàn năm từ đời nầy qua đời khác trong các bộ lạc cổ Trung Đông trước khi được ghi chép lại bằng chữ viết. Có nguồn cho rằng kinh Do Thái Giáo được ghi chép vào giữa thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 7 trước Công Nguyên, có nguồn cho rằng giữa thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên. Kinh Do Thái gồm có 24 tập kinh khác nhau viết bằng tiếng Do Thái Cổ.

Kinh Cựu Ước là tổng hợp một số tập kinh lấy từ kinh Do Thái Giáo cộng với một số các tập kinh khác không có trong kinh Do Thái Giáo. Có nguồn cho là kinh Cựu Ước được biên soạn ra giữa thế kỷ 12 và thế kỷ 2 trước Công Nguyên. Các tập kinh của kinh Cựu Ước lúc đầu được viết bằng tiếng Do Thái Cổ và Hy Lạp.

Ngay các sử gia Công Giáo cũng công nhận rằng họ không biết rõ ai đã tổng hợp các tập kinh cổ lại và ai đã đứng cương vị gì để “thánh hóa” kinh Cựu Ước. “Thánh hóa” có nghĩa là chính thức công nhận của quyển Kinh Thánh của họ có giá trị thiêng liêng (hay là “đã được cảm nhận từ Thiên Linh”).

Kinh Cựu Ước của mỗi giáo phái trong Công Giáo, Chính Thống Giáo và Tin Lành đều khác nhau đôi chút. Mỗi giáo phái công nhận hoặc bác bỏ một số những tập kinh khác nhau khi tập hợp chúng lại để làm thành quyển Kinh Cựu Ước của mình. (Công Giáo: 46 tập, Chính Thống Giáo: 53-56 tập, Tin Lành và Anh Giáo: 39 tập)

Trong lúc Giê Su còn sống, ông và các đồ đệ của ông dựa vào kinh Cựu Ước để truyền bá niềm tín ngưỡng của họ.

Sau khi Giê Su chết, các tín đồ của Giê Su vẫn tiếp tục dùng kinh Cựu Ước. Đến khoảng 45 năm đến năm 140 sau khi Giê Su chết, các đồ đệ của Giê Su bắt đầu biên soạn các tập sử ghi chép lại cuộc đời và lời dạy của Giê Su. Nhiều tu sĩ trong các thế hệ nối tiếp những đồ đệ của Giê Su cũng viết nhiều văn kiện tương tự theo cái nhìn và sự hiểu biết của họ. Một số các văn kiện nầy được đọc lên kèm theo với kinh Cựu Ước trong các nghi lễ.

Có nguồn cho rằng các văn kiện đầu tiên nầy được viết bằng tiếng Hy Lạp Cổ rồi sau đó được dịch ra các ngôn ngữ khác như Latin, Ai Cập, v.v. Có nguồn cho rằng các văn kiện đầu tiên nầy được viết bằng tiếng Do Thái Cổ.

Trong khoảng thời gian 3 thế kỷ đầu tiên, có rất nhiều bất đồng ý kiến và tranh cãi xảy ra giữa các lãnh tụ Thiên Chúa Giáo về giá trị và sự chính xác của các văn kiện nầy. Quan trọng nhất là sự bất đồng ý về các Ẩn Kinh (là các văn kiện tuy đã hiện hữu từ ban đầu và được cho rằng của các đồ đệ của Giê Su nhưng không bao giờ được công nhận bởi một số các giáo phái).

Tuy đã có vài tu sĩ thời đó muốn phối hợp một số các văn kiện trên lại thành một quyển Kinh Thánh duy nhất nhưng các nỗ lực đó đều không thành công vì các sự bất đồng ý kiến và tranh cãi nầy. Trong tất cả các văn kiện (hay “tập kinh”) hiện hữu, chỉ có 4 tập Tin Mừng của Matthew, Mac, Lucca và Ghoan là được mọi người đều nhìn nhận ở thời điểm đó. Đây là một lý do chính làm cho Thiên Chúa Giáo chia ra nhiều giáo phái khác nhau.

Giữa các giáo phái trong Thiên Chúa Giáo vào cuối thế kỷ thứ 3 có tổng cộng khoảng hơn 40 tập Tin Mừng khác nhau (ngoài 4 tập Tin Mừng của Matthew, Mac, Lucca và Ghoan), khoảng 40 Sách Công Vụ Tông Đồ, hơn 10 Sách Khải Huyền và hàng trăm bức thư của các Thánh. Mỗi giáo phái dùng một số văn kiện khác nhau trong việc nghi lễ của họ kèm theo với kinh Cựu Ước. Ở thời điểm nầy, không văn kiện nào được coi là do cảm nhận từ Thánh Linh.

Chỉ đến cuối thế kỷ thứ 4, quan niệm “thánh hóa” mới được Giám mục Athanasius của Alexandria đưa ra lần đầu tiên khi ông đề nghị bản danh sách của 27 văn kiện nên dùng để tạo ra một quyển Kinh Thánh thống nhất cho mọi người.

Trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 4 trở đi, tuy nói chung tín đồ Thiên Chúa Giáo đều đồng ý công nhận một số lớn các văn kiện nầy nhưng trên thực tế vẫn có rất nhiều quyển Kinh Thánh khác nhau của mỗi giáo hội khác nhau, mỗi quyển là một tập hợp khác nhau của các văn kiện khác nhau. Nói cách khác, các giáo hội nầy không thể hoàn toàn thống nhất được văn kiện nào có thể coi là đã được cảm nhận từ Thánh Linh.

Sự bất đồng ý kiến nầy tạo ra một sự chia rẽ trầm trọng giữa các giáo hội khác nhau trên lý thuyết tín ngưỡng cơ bản của tôn giáo họ. Thời bấy giờ, Thiên Chúa Giáo đóng một vai trò chính yếu trong cơ cấu chính quyền của các nước Âu Châu. Khi Thiên Chúa Giáo bành trướng càng ngày càng lớn mạnh, sự chia rẽ trên phương diện lý thuyết tín ngưỡng nầy thật sự đe dọa sự ổn định chính trị lẫn cán cân quân sự giữa các cường quốc Âu Châu đương thời.

Có nhiều hội đồng giáo định được thành lập từ thế kỷ thứ 4 trở đi trong nỗ lực giải quyết sự khác biệt tư tưởng nầy. Các hội đồng giám định nầy khảo nghiệm cặn kẽ từng văn kiện trước khi biểu quyết giá trị của nó. Qua nhiều thế kỷ, qua nhiều hội nghị khác nhau, mục tiêu hòa hợp và hòa giải vẫn không đạt được. Những quyết định của các hội đồng giáo định nầy thường không thỏa đáng và không đồng nhất. Có nhiều văn kiện và giáo định của những hội đồng trước bị các hội đồng sau bác bỏ, và ngược lại.

Trong thế kỷ thứ 16, sự chia rẽ đáng kể nhất về triết lý tôn giáo trong Thiên Chúa Giáo xảy ra giữa Công Giáo và Tinh Lành. Đồng thời trong thế kỷ thứ 16, chiến tranh xảy ra khốc liệt và lan tràn giữa các nước như Anh, Pháp, Đức và Thổ Nhĩ Kỳ. Các nhà lãnh tụ quốc gia lẫn tôn giáo đều nhận thấy một sự tối cần thiết để giải quyết ổn thỏa mau chóng và thân thiện về sự khác biệt tín ngưỡng nầy. Sự kiện nầy có một ảnh hưởng lớn đến các hội đồng giáo định khi họ thảo luận và biểu quyết về “giá trị thiêng liêng” của các tập kinh trong Kinh Thánh.

Cuối cùng, vào những năm cuối thế kỷ 16 thì quá trình thánh hóa các “văn kiện được công nhận” mới xảy ra chính thức cho các giáo hội. Hội đồng giáo định của Công Giáo (Council of Trent) đã biểu quyết và chính thức tuyên bố công nhận mục lục và nội dung của quyển Kinh Thánh của họ vào năm 1546; hội đồng giáo định của Anh Giáo (qua Ba Mươi Chín Văn Bản) năm 1563; hội đồng giáo định của Tin Lành (qua Hội Nghị Westminster) năm 1647; hội đồng giáo định của Chính Thống Giáo (qua Hội Nghị Jesusalem) năm 1672.

Qua quá trình biểu quyết trên, có những tập kinh được công nhận mặc dù trong quá khứ chúng đã bị chối bỏ; có những tập kinh bị chối bỏ mặc dù trong quá khứ chúng đã được công nhận; có những tập kinh được công nhận bởi giáo hội nầy nhưng bị chối bỏ bởi giáo hội khác, và ngược lại.
Những tập kinh được biểu quyết bởi các hội đồng giáo định kể trên đều nói chung được giữ nguyên không đổi cho đến ngày hôm nay.

Tuy vậy, gần đây có một vài thay đổi tuy nhỏ nhưng đáng kể xảy ra trong Kinh Thánh Công Giáo. Năm 1870, một số chi tiết được thêm vào trong sách Tin Mừng của Mac-Cô, Luca, Ghoan. Ngày 2 tháng 6 năm 1926, Đức Giáo Hoàng Pius XI tuyên bố Tòa Thánh không còn công nhận “Comma Johanneum” nữa (“comma” là những đoạn ghi chú thỉnh thoảng được các soạn giả cố ý thêm vào từ đầu thế kỷ thứ 3 cho đến nhiều nhất là khoảng thế kỷ 16. “Comma Johanneum” là các ghi chú bởi Desiderius Erasmus of Rotterdam và thế kỷ 16).


Luận diễn

1. Một điều cần biết là cho đến khi máy in Gutenberg được sáng chế vào thế kỷ 15 thì tất cả các kinh sách đều được sao chép bằng tay. Trong thời bấy giờ, số người biết đọc và viết rất ít, và hầu như tất cả những người nầy đều là tu sĩ. Những tu sĩ nầy làm việc cho những giáo hội có những cái nhìn khác nhau về Kinh Thánh. Điều nầy có nghĩa là nội dung của các quyển Kinh Thánh thời bấy giờ rất dễ bị thay đổi hoặc vì lỗi lầm vô tình hoặc vì cố ý biến sửa để làm thích hợp hơn với quan điểm của những lãnh tụ giáo hội.

2. Một điều khác cần chú ý là danh sách các tập kinh được cho vào Kinh Thánh đã được các hội đồng giáo định quyết định bằng phương pháp biểu quyết. Các thành viên của các hội đồng nầy đã dùng trí phán đoán của họ để bỏ phiếu cho những tập kinh mà họ tin rằng có giá trị thiêng liêng. Nói một cách khác, những văn kiện có nhiều phiếu nhất sẽ trở thành những tập kinh “đã được cảm nhận từ Thánh Linh”. Sự kiện “bỏ phiếu” nầy cho thấy chính con người đã gán đặt những giá trị thiêng liêng lên các văn kiện trên.

3. Câu hỏi “Làm sao biết chắc được những chi tiết trong Kinh Thánh đã được cảm nhận từ Thánh Linh mà không phải là hoàn toàn do trí tưởng tượng của con người?” luôn luôn là đề tài bàn cãi sôi nổi từ 2000 năm nay. Có những học giả tôn giáo cho rằng cả 2 trường hợp đều đúng cả: “Kinh Thánh đã được Thượng Đế truyền dẫn từng câu từng chữ qua người viết nhưng đồng thời người viết cũng vẫn có thể diễn tả những câu chữ nầy dựa theo cái nhìn và tính khí của cá nhân”. Có nhiều người cho đây chỉ là một mưu lược để bao che mọi phía: cho phép Kinh Thánh mang một giá trị thiêng liêng đồng thời dùng nhân tính giới hạn để chống đỡ cho những thiếu sót sai lỗi khi cần thiết.

4. Sự hiện hữu của hàng ngàn quyển Kinh Thánh khác nhau bởi nhiều giáo phái khác nhau trong lịch sử cho thấy Kinh Thánh rất khó có thể là một tác phẩm đã được khải huyền từ một đấng Thượng Đế toàn năng, toàn diện. Sự biến đổi không ngừng của Kinh Thánh lệ thuộc trực tiếp vào từng chi tiết của các cuộc xung khắc và tranh cãi giữa những giáo phái đối nghịch nhau qua gần 16 thế kỷ hỗ trợ cái nhìn vừa nêu lên.

5. Những chi tiết về lịch sử của Kinh Thánh được trình bày ở trên đây đều được ghi chép rõ ràng trong thư viện của các giáo phái. Tất cả tu sĩ Thiên Chúa Giáo trong quá trình học tập để tốt nghiệp đều được học về phần lịch sử nầy. Nếu một tín đồ “bình thường” tuyên bố rằng Kinh Thánh đã không hề thay đổi qua hàng ngàn năm nay, họ có thể bị xem là một người kém hiểu biết về vấn đề nầy. Tuy nhiên, nếu một tu sĩ hay một tổ chức của bất cứ giáo phái Thiên Chúa Giáo nào tuyên bố những câu tương tự, họ chỉ có thể được xem là thiếu thành thật và đang cố ý lừa dối người khác.


(dựa vào tổng hợp nhiều tài liệu sưu tập)
******

Thursday, February 18, 2010

Cột "gôn"

***
Con người ban đầu sợ sấm sét, núi lửa. Do đó họ thờ các thần sấm sét, núi lửa.

Khi sấm sét, núi lửa được khoa học “giải mã” rồi thì các thần đó biến vào quên lãng.

Khoa học tuy đã tiến bộ rất nhiều trong vài trăm năm gần đây những vẫn còn vô số hiện tượng trong vũ trụ và trong đời sống hàng ngày của con người mà khoa học chưa thể “giải mã” được.

Gần đây có lối lý luận về sự huyền diệu của con mắt để suy ra là phải có Thượng Đế (“cấu trúc của con mắt tinh vi, huyền diệu vô cùng nên phải có một Thượng Đế đã sáng tạo ra con mắt”).

Một ngày nào đó khi kiến thức khoa học về cấu trúc của con mắt trở thành “phổ thông” rồi thì tín đồ sẽ dùng một sự vật khác mà khoa học chưa thấu hiểu được để làm thí dụ cho cái lý luận “X tinh vi, huyền diệu vô cùng nên phải có một Thượng Đế đã sáng tạo ra X”.

Và cột “gôn” sẽ cứ được tiếp tục dời đi khi đối phương đưa trái banh đến gần. Nhưng chúng ta đã thấy từ lịch sử chẳng qua đó cũng chỉ là một bản chất của Thiên Chúa Giáo.
***

Tại sao lo lắng?

***
Có người hỏi nếu từ bỏ Đấng Sáng Tạo thì có gì khác để thay thế? Không phải là con người quá bơ vơ trong vũ trụ nầy nếu thật sự không có ai để nương tựa hay sao? Không phải là đời sống nầy vô nghĩa quá nếu nó không có mục đích gì hay sao? Không phải là vô vọng và kinh hãi quá nếu một ngày nào đó mỗi con người chúng ta chết đi và tan biến hoàn toàn không để lại dấu vết gì hay sao?

Câu trả lời của tôi là con người không cần cái khái niệm Đấng Sáng Tạo khi họ nhận ra được sức mạnh tâm linh của chính họ trong đời sống và trong vũ trụ nầy. Thay vì tiêu dùng năng lượng tâm thần trí một cách lạc hướng theo những ảo tưởng mơ hồ của tôn giáo, năng lượng nầy và thời gian nên được dùng để tập trung vào lãnh vực tâm linh của bản thể.

Tôi sẽ không giải thích ý nghĩa và mục đích của đời sống nầy ở đây. Lý do là vì tôi không biết đủ để giải thích rõ ràng. Lý do là vì chỉ có cá nhân mỗi người mới có thể tự tìm thấy ý nghĩa và mục đích của đời sống của chính họ. Tôi chỉ có thể nói là tôi tin chân thiện mỹ trong vũ trụ đã luôn luôn có sẵn chung quanh và bên trong chúng ta. Chúng ta do đó không cần phải lệ thuộc vào những lý thuyết không hoàn hảo của tôn giáo để đạt được và duy trì giá trị chân thiện mỹ trong đời sống vật chất và tâm linh.

Tôi cũng không biết chuyện gì sẽ xảy ra sau khi chúng ta chết. Tôi chỉ biết một điều là không ai trên đời biết điều đó cả cho đến khi cái chết xảy ra với chính họ. Theo tôi, chúng ta không thể thay đổi hay điều khiển được những gì xảy ra sau khi chết.

Theo tôi, vì thế tại sao chúng ta lại lo lắng thái quá đến nỗi phải phát minh ra những cách giải thích không hoàn hảo để tự trấn an chính mình?

***

Wednesday, February 17, 2010

"Bất khả xâm phạm"?

***
Nói về tư tưởng “tôn giáo là một lãnh vực thiêng liêng không nên xúc phạm đến”.

Theo tôi, tín ngưỡng thuộc về vấn đề tâm linh cá nhân. Mỗi người có những niềm tin riêng của họ. Họ có toàn quyền làm gì họ muốn với những niềm tin nầy, với điều kiện chúng không ảnh hưởng đến người khác.

Theo tôi, tôn giáo là phương cách tổ chức do con người tạo ra để hệ thống hóa, thống nhất hóa và quản trị các niềm tin cùng các lễ nghi tín ngưỡng khác nhau của họ. Tương tự, tín đồ có toàn quyền làm gì họ muốn với các phương cách tổ chức nầy, với điều kiện chúng không ảnh hưởng đến người khác.

Trong khi tôi có thể chấp nhận sự đồng hóa "tâm linh" với "thiêng liêng", tôi nghĩ khác về quan niệm "bất khả xâm phạm" dành cho tôn giáo.

Theo tôi nếu niềm tin, ý tưởng, cách suy nghĩ, hệ thống tổ chức, phương cách điều hành, v.v. của một tập thể A có tác động tiêu cực lên sự hiện hữu và an sinh của một tập thể B thì tập thể B có quyền phản ứng thích đáng lại với tác động tiêu cực trên.

Nếu tập thể A dựa vào lý thuyết (nghĩa là không có bằng chứng thực tế) của riêng họ mà cho rằng tập thể B "tà gian", "vô đạo đức" và "thấp kém" hơn họ mà đồng thời không chấp nhận tập thể B có quyền nhận xét tương tự ngược lại về họ thì đó là một điều bất công và vô lý. Đó là cái mà Anh ngữ gọi là double standard, có nghĩa là tập thể A đòi hỏi phải áp dụng một luật lệ lên kẻ khác nhưng lại không muốn luật lệ ấy được sử dụng lên chính mình. Đối với tôi, những từ như "huyển hoặc", "vô căn cứ", "vô tưởng" và "vô nhân cách" mà tập thể B dùng để nhận xét tập thể A là những từ tương xứng và tương đương với những từ "tà gian", "vô đạo đức" và "thấp kém" mà tập thể A dành cho tập thể B.

Đó là nói về phương diện lý thuyết. Trên phương diện thực tế, Thiên Chúa Giáo mang lại những tai hại to lớn so với một số điều tốt đẹp nó mang đến cho nhân loại.

Trong lãnh vực lịch sử, Thiên Chúa Giáo đã và đang chịu trách nhiệm cho vô số những trận chiến tranh đẫm máu và các cuộc tàn sát kinh hãi nhất dưới danh nghĩa truyền đạo và bảo vệ đạo.

Trong lãnh vực đời sống hàng ngày, cái nhìn cực đoan của Thiên Chúa Giáo cũng có tác động tai hại đến quyền tự do cá nhân và vấn đề tâm sinh lý cũng như sinh mạng của vô số người.

Thí dụ? Người Công Giáo lệ thuộc vào Tòa Thánh về chuyện đạo đức đúng sai trong đời sống hàng ngày của họ. Những việc như việc cưới gả với người ngoại đạo, ly dị, ngừa thai bằng bao cao su, khoái cảm trong tình dục, đồng tình luyến ái, phá thai sau khi bị cưỡng hiếp, tự nguyện chết để khỏi đau đớn vì bệnh nan y, khảo cứu về tế bào gốc (stem cell), nữ giới ngang hàng với nam giới, v.v bị xem là những điều tội lỗi, bệnh hoạn, quỷ ám hay trái đạo lý. Họ lo sợ khi bị hăm dọa sẽ bị trục xuất ra khỏi tôn giáo, không được cứu độ trong ngày phán xét, bị đày dưới hỏa ngục đời đời, bị ruồng bỏ và kỳ thị bởi gia đình và cộng đồng, v.v.

Trong lãnh vực tri thức và trí thức, quan niệm “đức tin” trong Thiên Chúa Giáo (tiêu biểu là câu “Lành thay cho những kẻ không thấy mà tin”) cản trở và kéo lùi lại quá trình tiến hóa của khoa học và nhân loại.

Theo tôi, khi tín điều và cách tổ chức của một tôn giáo có ảnh hưởng đến đời sống của con người và xã hội thì nó không còn nằm trong phạm vi "cá nhân" và không còn được hưởng thụ cái đặc quyền "cần phải được tôn trọng và không nên xúc phạm đến" nữa.

Trong trường hợp một tôn giáo có những ảnh hưởng tai hại và sai lầm sâu rộng nhiều lần trong nhiều khía cạnh của nhân loại như Thiên Chúa Giáo thì chúng ta lại càng nên chú ý đến cặn kẽ hơn.
***

Tuesday, February 16, 2010

"Võ phu"

***
Có người cho rằng Richard Dawkins và những bạn của ông ấy có phần “võ phu” mỗi khi bàn luận về đề tài “Thượng Đế hiện hữu hay không?

Theo tôi, có nhiều khi chúng ta cần phải chọn lấy sắc màu nào gần nhất, hoặc trắng hoặc đen, mà chúng ta thoải mái nhất rồi tuyên bố cho mọi người biết rõ cái nhìn và cảm nghĩ của chúng ta ra sao. (Nhưng có lẽ là vì như vậy, tôi đã nhiều lần gặp phiền toái khi cố gắng giải thích cho tín đồ Thiên Chúa Giáo về "Một Cái Nhìn Khác" mà họ có vẻ không bao giờ có thể nào hiểu thấy được!)

Cả hai bên đều có những người võ phu. Tuy nhiên, tôi thấy có một bên mà số người nầy rất nhiều hơn và rất hung hãn hơn.
***

Monday, February 15, 2010

Hình dáng của Thiên Chúa?

***
Thay vì “Thiên Chúa tạo ra con người theo hình dáng của Ngài”, chúng ta nên nghĩ rằng chính con người đã tạo ra Thiên Chúa dựa theo hình dáng của họ.

Có ai bao giờ tự hỏi tại sao hình ảnh “chính thức” của Giê-Su là một người dáng Tây Phương, của Thích Ca là một người dáng Ấn Độ và của A-lah là một người dáng Trung Đông?
***

Sunday, February 14, 2010

Nguồn Gốc của Tôn Giáo

***

Mọi sự bắt đầu từ sự sợ hãi mà ra:

Con người trong thời văn minh thô sơ luôn luôn sợ hãi vì không thể giải thích và kiểm soát được các hiện tượng thiên nhiên (và có khi cả nhân tạo) ảnh hưởng đến đời sống họ.

Từ sự sợ hãi dẫn đến niềm tin về thần linh:

Con người thời ấy đoán rằng, và dần dần “tin” rằng, có những sức mạnh huyền bí và những thần linh sau lưng các hiện tượng nầy. Họ đoán thêm rằng, và dần dần “tin” rằng, họ có thể liên lạc và mua chuộc các thần linh nầy giúp đỡ họ bằng cách tôn thờ, dâng cúng các lễ vật. Đây là những “niềm tin” của con người trong thời văn minh thô sơ.

Tôn giáo là kết quả của sự hệ thống hóa các niềm tin về thần linh:

Các phương cách tôn thờ, dâng cúng lễ vật và các huyền thoại về những thần linh nầy càng ngày càng tích tụ lại và trở nên phức tạp, khó hiểu. Phức tạp vì chúng là sản phẩm từ nhiều nguồn gốc, của nhiều đoàn thể, bởi nhiều lý do khác nhau mà ra. Khó hiểu vì thật sự chính những người sản xuất ra chúng cũng chẳng hiểu rõ ý nghĩa của chúng. Tuy vậy, con người là một loài vật có trí óc tổ chức. Họ hệ thống hóa tất cả các niềm tin của họ lại và từ đó chúng ta có tôn giáo. Sở dĩ ngày nay có nhiều tôn giáo khác nhau là vì chúng xuất phát từ nhiều nhóm dân tộc có những nhu cầu, đời sống, phong tục, niềm tin khác nhau.

Tổ chức tôn giáo là những “chuyên gia” về tôn giáo:

Hầu như song song với sự thành lập của tôn giáo, một số nhỏ cá nhân trở thành “chuyên gia” về các cách thức tôn thờ, dâng cúng lễ vật và các huyền thoại về thần linh trong tôn giáo của họ. Những người nầy tập hợp lại thành đoàn thể rồi cũng hệ thống hóa cách sinh hoạt, cơ chế, luật lệ cho đoàn thể nầy của họ. Từ đó chúng ta có tổ chức tôn giáo.

Giáo lý, giáo điều là sản phẩm của tôn giáo lẫn tổ chức tôn giáo. Giáo lý, giáo điều là tập hợp những những “chân lý”, những hứa hẹn, những luật lệ mà người ta cho là thần linh ban ra. Giáo lý, giáo điều thật ra chỉ là tập hợp những huyền thoại (là sản phẩm của con người) lưu truyền thêm bớt sửa đổi từ thế hệ nầy qua thế hệ khác và những diễn giảng theo ý tưởng và kiến thức của các “chuyên gia” về những huyền thoại nầy.

Tôn giáo là một sản phẩm nhân tạo:

Chúng ta có thể thấy rõ tôn giáo là một sản phẩm nhân tạo từ sự kiện các chuyên gia (tu sĩ) phản ảnh giá trị của cá nhân họ và của xã hội đương thời vào những giáo điều, giáo lý và vào các lời diễn giảng, truyền dạy của họ.

Thí dụ, khi cuốn kinh thánh của Ki Tô giáo được thành hình, kiến thức hạn hẹp của con người nghĩ rằng trái đất phẳng và là trung tâm của vũ trụ, sự kiện nầy được ghi chép vào đó. (Nếu kinh thánh thật sự là của Thượng đế thì chắc là Thượng đế mặc dù vào mấy ngàn năm về trước vẫn đã phải biết là trái đất hình tròn và xoay chung quanh mặt trời chớ!?)

Thí dụ, trong quyển đầu của kinh Cựu Ước trong Ki Tô Giáo (17:14) dạy rằng “đứa trẻ trai nào không cắt da bao quy đầu sẽ bị ruồng bõ bởi cha mẹ và xã hội”. Câu nầy phản ảnh một phong tục trong xã hội Do Thái Cổ đương thời mà ngày nay không còn có giá trị nữa.

Thí dụ, tòa Thánh Vatican quyết định ai sẽ được, hay không được, tôn vinh lên ngôi vị "Thánh". "Thánh" là một chức năng chính thức của một thần linh, được tôn thờ cầu lụy, được đứng vào hàng "quan chức" trong vương quốc của Thượng đế. Trong khi đó Vatican chỉ là một tổ chức làm chủ bởi một nhóm nhỏ các con người không có khả năng hay huyền lực gì đặc biệt hơn một người "bình thường" như chúng ta. Đây là một trong những thí dụ rõ rệt nhất cho thấy (một nhóm nhỏ) con người tự tạo dựng lên thần linh, huyền thoại để rồi cả tập thể tự lừa dối mình mà tôn vinh, dung dưỡng các thần linh, huyền thoại đó lên ngôi vị bất khả xâm phạm trong tâm linh mình.
****

Saturday, February 13, 2010

Tôi muốn nói gì?

***
Tôi muốn nói rằng:

Về tôn giáo nói chung:

- Tôn giáo không có một nguồn gốc siêu nhiên gì cả; tôn giáo chỉ là một hiện tượng tự nhiên được tạo thành và tiến hóa do nhu cầu của con người.

- Tôn giáo không phải là một phạm trù “bất khả xâm phạm”; tôn giáo nên và cần được phân tích bàn luận đến một cách thoải mái giống như khi bàn luận những hiện tượng tâm sinh lý hay xã hội khác.

Về tôn giáo độc thần:

- Thượng đế chỉ là một sản phẩm của con người. Kinh Thánh và Koran cũng là những sản phẩm của con người.

- Tôn giáo không phải là nguồn gốc hay nền tảng của đạo đức. Những giáo điều trong Kinh Thánh và Koran truyền dạy về các giá trị “chân thiện mỹ” đã có sẵn tự nhiên trong bản tính cơ bản của mỗi con người. Con người không cần có tôn giáo mới có thể sống một đời sống đạo đức.

- Có những giáo điều trong Kinh Thánh và Koran phản ảnh tiêu chuẩn xã hội của những thời đại thô sơ xưa cổ; những giáo điều nầy chỉ có thể được coi là vô đạo đức theo tiêu chuẩn xã hội con người ngày nay.

- Nhiều tín đồ cực đoan sẵn sàng dùng các giáo điều vô đạo đức nầy để hỗ trợ cho các quan điểm và củng cố quyền lợi cá nhân của họ. Nhiều quan điểm và hành động nầy có tác động tai hại trực tiếp đến đời sống của mọi người chúng ta.

- Giữ im lặng mặc dù không chấp nhận những giáo điều vô đạo đức là góp phần gìn giữ chúng, và do đó vô tình đưa cơ hội để những thành phần cực đoan dùng chúng làm lý do cho những hành động tai hại.

- Đại đa số tín đồ độc thần thật ra chỉ là “tín đồ biến cải”. Niềm tín ngưỡng mà cá nhân họ thật sự đi theo đã được chính họ tổng biến cải ngay từ căn bản để thích hợp với hoàn cảnh và tư tưởng của riêng họ. Khi họ không thực hành hay chấp nhận các giáo điều vô đạo đức trong cái tôn giáo “gốc” thì, theo tôi, họ không còn thật sự là tín đồ của tôn giáo ấy nữa.
***

Một Điều Cần Thiết

***

Có người hỏi tại sao tôi bỏ công sức ra viết về những vấn đề tế nhị dễ gây phiền hà nầy.

Tôi làm việc nầy vì tôi cần làm việc nầy. Không phải vì tôi muốn gây hấn, khiêu khích hay muốn khoe khoang về sự hiểu biết của tôi. Không ai thích làm cho người khác ghét mình cả. Tôi có rất nhiều bạn hữu là người Công Giáo mà tôi rất nễ trọng.

Lý do thứ nhất là vì nhu cầu tâm linh của chính tôi. Đây không phải là lần đầu tiên tôi ngồi xuống viết ra những chuyện nầy. Vì tôn giáo là một vấn đề vô cùng rộng lớn và phức tạp, mỗi lần viết ra là mỗi lần tôi lại có dịp chỉnh đốn những sự lỏng lẻo nếu có và củng cố thêm khuôn cách và nền móng trong sự suy nghĩ và phân tích của tôi. Khi viết ra để chia sẻ với những người khác, tôi càng phải hết sức thận trọng trong từng lý luận của mình. Giống như một tín đồ siêng năng lần hạt chuỗi, tôi siêng năng nghiền ngẫm những gì tôi cần suy nghiệm.

Đến một cỡ tuổi đời nào đó thì phần đông chúng ta bắt đầu dành nhiều thì giờ hơn để nhìn về phương diện tâm linh. Có người mong tìm sự an lành bằng cách tin rằng họ thấy và biết con đường dẫn đến Thượng đế. Tôi tìm được sức mạnh tâm linh khi tin rằng ở cuối con đường đó không có Thượng đế gì hết mà chỉ có một mình tôi.

Lý do thứ hai cho trang web nầy là vì tôi muốn trình bày sự tai hại của tôn giáo, nhất là tôn giáo độc thần, đến đời sống thực tế hàng ngày của tất cả chúng ta. Tôi tin rằng nhiều người không để ý nhận thấy những sự tai hại nầy. Tôi sẽ đi lần lượt đi vào chi tiết về vấn đề nầy sau.
***